Chiêu “làm đẹp” sổ sách bằng sản phẩm mới/ gia nhập ngành mới

Gom Củi giới thiệu Dầu mè gừng của Noom

Nội dung chính

Trong Báo cáo tài chính (BCTC), khoản Nghiên cứu và phát triển (R&D) dở dang đủ điều kiện để không cần tính vào Chi phí hợp lý của doanh nghiệp (DN). Do đó, nhiều DN có thể tìm cách hạch toán các khoản chi phí vào hạng mục này để tăng lợi nhuận sổ sách.

Ví dụ: nếu có một khoản chi phí có giá trị 100 tỷ, được hợp lý hóa thành chi phí R&D dở dang thì 100 tỷ này không bị tính vào Chi phí kinh doanh. Lợi nhuận sổ sách do đó cũng tăng lên 100 tỷ.

Đây là một thủ thuật “phù phép” rất thường gặp khi DN tung sản phẩm mới hay tham gia ngành mới không thành công.

Đương nhiên, DN nào cũng muốn dự án mình triển khai sẽ thành công. Nhưng nhìn từ sổ sách tài chính, thì việc tính các khoản này là Chi phí hay không sẽ mang đến những giá trị rất khác nhau.

1 – LỢI NHUẬN SỔ SÁCH TĂNG GIÚP ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TỐT HƠN

Lợi nhuận sổ sách của DN cao hơn thường mang đến tâm lý kỳ vọng cao hơn, nhờ đó định giá DN tốt hơn.

Trên thị trường, cách phổ biến định giá DN theo công thức sau:

Giá trị DN = (EPS x Lượng cổ phần) x (P/E)kỳ vọng .

 

 

EPS = Lợi nhuận sau thuế/ Lượng cổ phần.

Nhưng ta cần quan tâm đến Hệ số (P/E)kỳ vọng . Công thức tính (P/E)kỳ vọng = P/EPSkỳ vọng .

PGiá cổ phiếu trên thị trường.

EPSkỳ vọng chính là Thu nhập tính trên mỗi cổ phiếu kỳ vọng. Nó thường được ước tính dựa trên so sánh với mức trung bình ngành. Cái này thì chúng ta biết cả rồi nhỉ.

Kỳ vọng càng cao cho thấy niềm tin càng cao. Ở chiều nguyên nhân tạo ra kỳ vọng, muốn gia tăng kỳ vọng thì cần có những thông tin tích cực.

Nhờ lợi nhuận tốt hơn và kỳ vọng cao hơn nên DN có thể thuyết phục người đầu tư rằng EPSkỳ vọng của mình cao hơn so với trung bình ngành. Kết hợp với EPS dựa trên sổ sách cao hơn mà giá trị DN sẽ được định mức cao hơn.

Định giá cao hơn có tác dụng gì thì chúng ta đều biết rồi.

2 – TÁC DỤNG CHE GIẤU NHỮNG THẤT BẠI

Việc tăng lợi nhuận sổ sách theo cách này có thể giúp DN “che giấu” đi bản chất thực sự đằng sau nhiều thất bại của chính họ.

XEM XÉT TÌNH HUỐNG

TH 1: Tập đoàn A vừa mới tham gia ngành mới. Họ triển khai nhiều hoạt động thử nghiệm, nhưng sau 6 tháng liền đóng dự án. Họ tuyên bố rằng, phải dứt khoát vì sau khi tìm hiểu thị trường thấy không phù hợp.

TH 2: Cũng là Tập đoàn A vừa mới tham gia ngành mới. Họ triển khai nhiều hoạt động thử nghiệm, sau 6 tháng đóng dự án. Họ nói rằng: quá trình triển khai của chúng tôi gặp vấn đề nên phải đóng.

Sự tình đằng sau 2 tình huống này như nào, người đầu tư là người ngoài, làm sao rõ. Thế nhưng số tiền chi cho 2 tình huống như nhau thì chúng ta đều có thể nhìn thấy trong BCTC. Chỉ khác nhau ở tuyên bố nguyên nhân đóng dự án thôi.

PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

Thế nhưng, với TH 1, người đầu tư cho rằng đây là sự dứt khoát cần có khi nhận ra sự không phù hợp. Còn trong TH 2, người đầu tư có thể cho rằng Tập đoàn A trung thực, nhưng khó tránh việc họ sẽ ngầm hiểu năng lực của tập đoàn này có vấn đề.

Nếu bạn là Tập đoàn A, bạn chọn cách nào? Nếu bạn xem tin tức báo chí đủ nhiều, bạn sẽ thấy tuyên bố như TH 1 là phổ biến. Bởi tuyên bố như vậy thì hoàn toàn có lý do để nói: “Chúng tôi có năng lực, chỉ là thị trường chưa phù hợp thôi!”. Người ngoài thì không biết nội bộ thực sự ra sao, “anh nói sao chẳng được!”.

Chúng ta phân tích, đương nhiên cần có sự khách quan. Ở đây, hoàn toàn có thể họ tuyên bố đúng sự thật, nhưng ta không có đủ cơ sở, thông tin để kết luận họ trung thực. Ta nên nghi ngờ với những tuyên bố – nghi ngờ sẽ giúp khoản đầu tư của chúng ta an toàn.

Nếu bạn biết bản chất của truyền thông thì bạn sẽ có cơ hội tìm kiếm thêm thông tin xác thực. Bằng không, ở góc độ đầu tư, ta chỉ cần quan tâm: “Đó phải là một khoản chi phí, và lợi nhuận cao trong sổ sách cứ trừ đi khoản chi phí này để phân tích tiếp.”

3 – PHÂN TÍCH CHI PHÍ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN DỞ DANG

Trong thực tế, việc hạch toán các khoản kiểu này và chi phí R&D dở dang đòi hỏi rất nhiều nghiệp vụ cần triển khai để nó được hợp lý hóa. Do đó, nếu chỉ thông qua BCTC thì ta khó có thể xác định sự thực đằng sau. Đó là chưa kể việc có nghĩ đến để mà tính hay không.

Trên lý thuyết, các BCTC đều có thể được kiểm toán. Nhưng không phải lúc nào đơn vị kiểm toán cũng đủ cơ sở hoặc đủ điều kiện để yêu cầu DN thay đổi sau khi đã dùng thủ thuật này. Đó là chưa kể hoạt động kiểm toán cũng lắm nhiêu khê.

Do đó, ở góc độ phân tích, ta cần hiểu vài điều về bản chất để đưa ra suy đoán, kết luận.

TUNG SẢN PHẨM MỚI/ GIA NHẬP NGÀNH THẤT BẠI CÓ THỂ KHÔNG CHỈ DO THỊ TRƯỜNG

Chúng ta đều biết, trong kinh doanh, ngoài thị trường thì năng lực nội tại của DN cũng quyết định thành bại của các dự án.

Thất bại có thể do tổ chức quy trình sản xuất chưa phù hợp. Có thể do khâu bán hàng, marketing yếu kém. Trong trường hợp gia nhập ngành mới thì có thể thất bại do thiếu kinh nghiệm triển khai chi tiết.

Vì thế, khi một DN nào đó tung nhiều sản phẩm mới, hoặc tham gia nhiều ngành nhưng tỷ lệ thành công không cao, hoặc không tạo dựng được vị thế cạnh tranh mạnh trong từng ngành, hoặc “đến rồi đi” khỏi các ngành nhiều quá, ta cần phải đặc biệt lưu ý. Đây có thể là dấu hiệu của năng lực nội bộ không thực sự tốt (dù có truyền thông hay đến mấy).

CHI PHÍ R&D DỞ DANG HỢP LÝ PHẢI THẾ NÀO

Về bản chất, các chi phí R&D chỉ bao gồm các chi phí trong Phòng nghiên cứu. R&D chỉ là những hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm một công nghệ mới, các quy cách mới,… để đánh giá các tiêu chuẩn vận hành, sử dụng tại Phòng nghiên cứu mà thôi.

Các hoạt động trên thị trường, tiếp cận với khách hàng, lấy ý kiến thị trường, thì dù là sản phẩm mới cũng là các hoạt động Phát triển sản phẩm.

Ở các DN hiện đại, các hoạt động này rất nhiều, thường nhằm mục tiêu đánh giá phản ứng của thị trường với các công nghệ mới, sản phẩm mới, hoặc các cải tiến mới. Nó vẫn sẽ được tính vào chi phí. Một tư duy cơ bản trong hiện đại đó là: “Không thay đổi có nghĩa là lạc hậu”. Do đó khi đánh giá các DN này, các khoản kê khai rõ ràng cho hạng mục này dù kéo thấp lợi nhuận nhưng lại là điều hợp lý.

VẬY THÌ KÊ KHAI CHI PHÍ VÀO KHOẢN NÀO CHẲNG ĐƯỢC? KHÔNG! SAI LẦM TO RỒI!

Phát triển sản phẩm quy trình hướng đến “Phát hiện cái chưa phù hợp càng sớm càng tốt”. Vì thế, mọi việc cần làm đều được chủ động tính toán để giảm chi phí thấp nhất có thể. Nhờ đó mà DN “học được nhanh hơn với học phí rẻ nhất có thể”.

Nhưng R&D thì khác, nó chỉ hướng đến tạo ra cái mới mà không cần quan tâm đến sự chấp nhận của thị trường. Ta sẽ bàn kỹ thêm ở chuyên mục khác.

Vấn đề chính ở bản chất này, vì khi ta nhìn vào các hoạt động tung sản phẩm mới, gia nhập ngành mới, ta phải nhìn nhận đó là hạng mục Phát triển sản phẩm chứ không phải hạng mục R&D.

Phát triển sản phẩm thất bại là thường tình. Nhưng bản chất của Phát triển sản phẩm thất bại là do năng lực nhiều hơn do thị trường. Bản chất của nó là lấy thị trường làm tiêu điểm, mọi điều chỉnh, thay đổi về sản phẩm, sản xuất, mô hình kinh doanh đều hướng đến đáp ứng được thị trường. Sai bao nhiêu lần không quan trọng, quan trọng là học được gì sau khi sai và vận dụng nó tiếp thế nào.

Do đó, khi khoản chi cho các hoạt động này quá lớn, và trong thời gian quá ngắn, đó có thể là dấu hiệu của năng lực quản trị có vấn đề, tư duy có vấn đề, hoặc (thông thường nhất thì) do DN cố ý làm thế để chi một khoản tiền nào đó nhưng không gây ảnh hưởng đến lợi nhuận sổ sách.

Vì nó đã được định rằng sẽ dùng để hạch toán vào Chi phí R&D dở dang rồi.

4 – KẾT LUẬN

Các tiêu chuẩn kế toán của Việt Nam sẽ có vài khác biệt, vì thế nhiều hạng mục thậm chí còn dễ bị ghép vào các khoản khác trong BCTC mà ta buộc phải soi kỹ lưỡng.

Nếu muốn dựa vào BCTC để phân tích, bạn buộc phải bỏ công sức ra hiểu biết về các nghiệp vụ kế toán, kèm theo là sự “lọc lõi” trong kinh doanh.

Các kỹ thuật phân tích BCTC dựa trên vài chỉ số và kết luận ngay theo công thức mà ngày nay chúng ta biết, nếu bạn tìm hiểu về lịch sử phát triển của nó, bạn sẽ nhận ra nó dành cho những “kẻ tay ngang”.

Vì thế, nếu bạn chưa phải “tay chuyên”, và bạn đang đầu tư hoặc đầu cơ giao dịch, hãy thực sự bình tĩnh, thận trọng. Phân tích kỹ thuật là cách hợp lý hơn cho ai muốn giao dịch, còn muốn đầu tư sở hữu công ty thì bạn buộc phải bỏ công sức và tìm kiếm các mối quan hệ có lợi cho việc đánh giá này. Điều này phụ thuộc vào bạn và cả sự may mắn của chính bạn.

Lưu ý: Ta sẽ không nói đến những người phân tích của các quỹ/ nhà đầu tư lớn. Những giá trị họ nhận được, mục tiêu họ hướng đến khác chúng ta rất nhiều. Ở đây chúng ta chỉ xét đến những người phân tích thông thường, quỹ nhỏ trong việc “chọn hàng” để đầu tư.

Chia sẻ nếu bạn thấy hữu ích: